Câu 3: Ở loài Hoa mõm chó (Antirrhinum majus), màu sắc và cấu tạo hoa do một locus gene quy định. Allele trội A quy định hoa đỏ, cấu tạo tràng hoa mở giúp côn trùng dễ dàng thụ phấn chéo. Trong quần thể xuất hiện đột biến tạo allele a, biết rằng khi ở trạng thái đồng hợp (aa), nó vừa quy định hoa trắng, vừa làm tràng hoa đóng kín khiến cây chỉ có thể tự thụ phấn.
Một quần thể xuất phát (P) đang ở trạng thái cân bằng di truyền với tần số allele a bằng 0,2. Do đặc điểm cấu tạo hoa đóng kín và kích thước hạt phấn nhỏ hơn bình thường, khả năng thụ tinh thành công để tạo hạt của các cây hoa trắng (aa) chỉ bằng 50% so với các cây hoa đỏ (AA và Aa). Các cây hoa đỏ vẫn ngẫu phối với nhau và có khả năng sinh sản bình thường (100%).
Theo lí thuyết, sau một thế hệ sinh sản, tỉ lệ kiểu hình hoa trắng (aa) ở đời con trưởng thành chiếm bao nhiêu phần trăm trong quần thể? (Đáp án viết dưới dạng số thập phân, làm tròn đến hai chữ số sau dấu phẩy).
Hướng dẫn giải
A. Xét thế hệ P: Quần thể cân bằng với q(a) = 0,2 và p(A) = 0,8. Cấu trúc kiểu gene P: 0,64 AA : 0,32 Aa : 0,04 aa.
B. Phân tích nhóm sinh sản:
Nhóm 1 (Tự thụ phấn): Gồm 0,04 aa. Vì khả năng sinh sản chỉ đạt 50%, nên tỉ lệ đóng góp thực tế của nhóm này vào đời con là: 0,04 * 0,5 = 0,02. Đời con sinh ra từ nhóm này 100% là aa.
Nhóm 2 (Ngẫu phối): Gồm 0,64 AA và 0,32 Aa. Tổng tỉ lệ nhóm này là: 0,64 + 0,32 = 0,96. Nhóm này sinh sản bình thường (100%). Tần số allele trong riêng nhóm ngẫu phối này là:
p(A) = (0,64 + 0,32/2) / 0,96 = 0,8 / 0,96 = 5/6.
q(a) = 1 - 5/6 = 1/6.
C. Tính toán tỉ lệ đời con (F1):
- Tỉ lệ cây aa sinh ra từ nhóm ngẫu phối: (1/6 * 1/6) * 0,96 = 1/36 * 0,96 = 0,0267.
- Tỉ lệ cây aa sinh ra từ nhóm tự thụ phấn: 0,02 (đã tính ở bước 2).
D. Tổng giá trị thích nghi của cả quần thể (Tổng tỉ lệ đời con sống sót): Tổng = 0,96 (từ nhóm ngẫu phối) + 0,02 (từ nhóm tự thụ) = 0,98.
5. Tỉ lệ kiểu hình hoa trắng (aa) ở đời F1: Tỉ lệ aa = (0,02 + 0,0267) / 0,98 = 0,0467 / 0,98 = 0,04765...
Kết luận: Làm tròn đến hai chữ số sau dấu phẩy theo dạng phần trăm: 4,77%.