Câu 3. Nghiên cứu về biến động quần thể cá dảnh ( Puntioplites proctozysron ) tại Búng Bình Thiên (tỉnh An Gia...
Minh Anh
Thành viên cộng đồng
Câu 3. Nghiên cứu về biến động quần thể cá dảnh (Puntioplites proctozysron) tại Búng Bình Thiên (tỉnh An Giang) được thực hiện nhằm xác định sự thay đổi về kích thước và số lượng cá thể, từ đó đánh giá các tham số tăng trưởng phục vụ khai thác và quản lí nguồn lợi thủy sản.Thời gian nghiên cứu kéo dài từ tháng 7/2018 đến tháng 6/2019, với 12 đợt thu mẫu tương ứng 12 tháng. Dụng cụ thu mẫu sử dụng lưới có kích thước mắt lưới từ 0,5 cm đến 4,5 cm để có thể thu được cá ở nhiều kích cỡ và tầng nước khác nhau. Mẫu cá được cân (g/cá thể) và đo chiều dài tổng (cm). Kết quả thu được 1975 cá thể với nhiều kích cỡ khác nhau trong cùng một thời điểm. Trong đó, cá kích thước nhỏ chiếm tỉ lệ cao vào mùa mưa và mùa lũ, còn cá kích thước lớn chiếm tỉ lệ cao vào mùa khô (từ tháng 3 đến tháng 7). Nghiên cứu ghi nhận có hai đợt bổ sung cá thể vào quần thể là tháng 1–2 và tháng 9, do cá sinh sản và kết hợp với nguồn cá từ thượng nguồn đổ về trong mùa lũ. Chiều dài tổng lớn nhất ghi nhận được là 23 cm (vào tháng 5), trong khi chiều dài tối đa của loài có thể đạt 30 cm. Số lượng cá kích thước lớn (18–23 cm) rất ít và không bắt gặp cá dài trên 23,5 cm.
a) Cá kích thước lớn xuất hiện nhiều vào mùa khô cho thấy đây là thời điểm khai thác hợp lí hơn so với mùa mưa.
b) Việc không bắt gặp cá dài trên 23,5 cm chứng tỏ môi trường sống ở Búng Bình Thiên không phù hợp với loài cá này.
c) Sự thay đổi tỉ lệ các nhóm kích thước cá theo mùa phản ánh ảnh hưởng của yếu tố môi trường đến cấu trúc quần thể.
d) Nghiên cứu biến động của quần thể cá dảnh là cơ sở để phát triển nguồn thủy sản trong mùa mưa lũ và đánh bắt trong mùa khô
Cô Nguyễn Thị Sen
Chuyên giaĐã trả lời ngày 10/09/2026
Câu 3. Nghiên cứu về biến động quần thể cá dảnh (Puntioplites proctozysron) tại Búng Bình Thiên (tỉnh An Giang) được thực hiện nhằm xác định sự thay đổi về kích thước và số lượng cá thể, từ đó đánh giá các tham số tăng trưởng phục vụ khai thác và quản lí nguồn lợi thủy sản.Thời gian nghiên cứu kéo dài từ tháng 7/2018 đến tháng 6/2019, với 12 đợt thu mẫu tương ứng 12 tháng. Dụng cụ thu mẫu sử dụng lưới có kích thước mắt lưới từ 0,5 cm đến 4,5 cm để có thể thu được cá ở nhiều kích cỡ và tầng nước khác nhau. Mẫu cá được cân (g/cá thể) và đo chiều dài tổng (cm). Kết quả thu được 1975 cá thể với nhiều kích cỡ khác nhau trong cùng một thời điểm. Trong đó, cá kích thước nhỏ chiếm tỉ lệ cao vào mùa mưa và mùa lũ, còn cá kích thước lớn chiếm tỉ lệ cao vào mùa khô (từ tháng 3 đến tháng 7). Nghiên cứu ghi nhận có hai đợt bổ sung cá thể vào quần thể là tháng 1–2 và tháng 9, do cá sinh sản và kết hợp với nguồn cá từ thượng nguồn đổ về trong mùa lũ. Chiều dài tổng lớn nhất ghi nhận được là 23 cm (vào tháng 5), trong khi chiều dài tối đa của loài có thể đạt 30 cm. Số lượng cá kích thước lớn (18–23 cm) rất ít và không bắt gặp cá dài trên 23,5 cm.
A. Cá kích thước lớn xuất hiện nhiều vào mùa khô cho thấy đây là thời điểm khai thác hợp lí hơn so với mùa mưa.
B. Việc không bắt gặp cá dài trên 23,5 cm chứng tỏ môi trường sống ở Búng Bình Thiên không phù hợp với loài cá này.
C. Sự thay đổi tỉ lệ các nhóm kích thước cá theo mùa phản ánh ảnh hưởng của yếu tố môi trường đến cấu trúc quần thể.
D. Sự thay đổi tỉ lệ các nhóm kích thước cá theo mùa phản ánh ảnh hưởng của yếu tố môi trường đến cấu trúc quần thể.
Hướng dẫn giải
A. Đúng
Mùa khô (tháng 3–7) có tỉ lệ cá kích thước lớn cao hơn, trong khi mùa mưa – lũ chủ yếu là cá nhỏ. Khai thác vào mùa khô giúp hạn chế tác động đến cá non, góp phần bảo vệ nguồn lợi.
B. Sai
Chiều dài tối đa của loài có thể đạt 30 cm, nhưng mẫu nghiên cứu chỉ ghi nhận tối đa 23 cm. Điều này có thể do áp lực khai thác hoặc cấu trúc tuổi của quần thể, không đủ cơ sở kết luận môi trường không phù hợp.
C. Đúng
Sự biến động tỉ lệ kích thước theo mùa cho thấy các yếu tố môi trường (mưa, lũ, nguồn nước, sinh sản) ảnh hưởng rõ rệt đến cấu trúc và động thái quần thể.
D. Đúng
Nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa biến động kích cỡ và mùa, từ đó có cơ sở khai thác hợp lý



